Kim Kiếm Khiếu

Kim Kiếm Khiếu
Born Tháng 12, 1910
Thẩm Dương, Liêu Ninh, Flag of China (1889–1912).svg Đại Thanh
Died 15 tháng 8, 1936
Tề Tề Cáp Nhĩ, Hắc Long Giang, Flag of Manchukuo.svg Đại Mãn Châu
Nationality Flag of Manchukuo.svg Đại Mãn Châu
Spouse(s) ?
Children Kim Luân[1] (ái nữ)

Kim Kiếm Khiếu (Chinese: 金劍嘯, 1910 - 1936) là bút hiệu của một văn sĩ Trung Hoa Dân quốc[2][3].

Tiểu sử

Kim Kiếm Khiếu sinh tháng 12 năm 1910 tại thành phố Thẩm Dương. Ông có nguyên danhKim Thừa Tái (金承載), tự Bồi Chi (培之), hiệu Mộng Trần (夢塵), bút danh Kiếm Khiếu (劍嘯), Kiện Thạc (健碩), Ba Lai (巴來)[4].

Thân sinh của Kim Kiếm Khiếu vốn là công nhân, năm ông lên 3 tuổi thì gia đình chuyển từ Thẩm Dương đến Cáp Nhĩ Tân. Ban sơ họ ngụ ở ngoại ô, sau đó lại chuyển đến số nhà 36 hẻm Đào Hoa. Năm lên 8 tuổi, Kim Kiếm Khiếu được gửi vào Tiểu học Chính Dương (nay là Tiểu học Tam Dục). 6 năm sau, ông tốt nghiệp và được thừa nhận là tín hữu Cơ Đốc giáo. Sau 3 năm học tập tại nhà thờ, ông thi đỗ vào Đại học Y khoa Cáp Nhĩ Tân[2][3].

Ảnh hưởng

Sau cái chết oanh liệt của Kim Kiếm Khiếu, nữ sĩ Tiêu Hồng đã cảm khái viết bài tiếc thương ca Nhất lạp thổ nê (一粒土泥)[5][6].

Xem thêm

Tham khảo

Thể loại:Sinh 1910 Thể loại:Mất 1936 Thể loại:Đông Bắc tác gia quần Thể loại:Mãn Châu quốc Thể loại:Người Mãn Châu Thể loại:Người Liêu Ninh Thể loại:Nhà văn Trung Quốc Thể loại:Nhà báo Trung Quốc