Tổng thống Hoa Kỳ

Template:FixBunching Template:Infobox political post Template:FixBunching Template:Chính trị Hoa Kỳ Template:FixBunching

Tổng thống Hoa Kỳnguyên thủ quốc gia (head of state) và cũng là người đứng đầu chính phủ (head of government) Hoa Kỳ. Đây là viên chức chính trị cao cấp nhất về mặt ảnh hưởng và được công nhận như vậy tại Hoa Kỳ. Tổng thống lãnh đạo ngành hành pháp của chính phủ liên bang Hoa Kỳ và là một trong hai viên chức liên bang duy nhất được toàn quốc Hoa Kỳ bầu lên (người kia là Phó Tổng thống Hoa Kỳ).[1]

Trong số những trách nhiệm và quyền hạn khác, Điều khoản II Hiến pháp Hoa Kỳ giao cho Tổng thống hành xử một cách trung thành luật liên bang, đưa Tổng thống vào vai trò tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ, cho phép Tổng thống đề cử các viên chức tư pháp và hành pháp với sự góp ý và ưng thuận của Thượng viện và cho phép Tổng thống ban lệnh ân xá.

Tổng thống được dân chúng bầu lên một cách gián tiếp thông qua Đại cử tri đoàn trong một nhiệm kỳ bốn năm. Kể từ năm 1951, các Tổng thống Hoa Kỳ chỉ được phục vụ giới hạn hai nhiệm kỳ theo Tu chính án 22, Hiến pháp Hoa Kỳ.

44 cá nhân đã được bầu hoặc kế nhiệm trong chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ. Tổng thời gian phục vụ của tất cả các tổng thống là 56 nhiệm kỳ bốn năm.[2]

Ban đầu

Năm 1783, Hiệp định Paris (1783) đã mang lại cho Hoa Kỳ một nền độc lập và hòa bình nhưng với một cơ cấu chính phủ chưa rõ ràng. Đệ Nhị Quốc hội Lục địa đã phác thảo ra Các điều khoản Hợp bang vào năm 1777 có nói đến một hợp bang vĩnh viễn nhưng chỉ cho phép Quốc hội là cơ quan liên bang duy nhất - quá ít quyền lực để tài trợ cho chính mình hay bảo đảm rằng những nghị quyết của quốc hội có được thi hành hay không. Việc này một phần phản ánh quan điểm chống vương quyền trong thời cách mạng và hệ thống chính trị Mỹ mới này rõ ràng được tạo dựng lên để ngăn chặn sự trỗi dậy của một bạo chúa Mỹ.

Tuy nhiên, trong suốt cuộc khủng hoảng kinh tế do sự sụp đổ của đồng tiền Lục địa theo sau cuộc Cách mạng Mỹ, sự sống còn của chính phủ Mỹ bị đe dọa bởi sự bất ổn chính trị tại một số tiểu bang, bởi những nỗ lực của những người thiếu nợ muốn dùng chính phủ nhân dân để xóa nợ cho họ, và bởi sự bất lực thấy rõ của Quốc hội Lục địa trong việc cưỡng bách công chúng thi hành bổn phận của mình từng được áp dụng trong thời chiến. Quốc hội có vẻ cũng không thể trở thành một diễn đàn hợp tác sản xuất trong số các tiểu bang khuyến khích phát triển kinh tế và thương mại. Để đối phó, Hội nghị Philadelphia được triệu tập, bề ngoài như có vẻ phác thảo ra các tu chính cho Các điều khoản Hợp bang, nhưng thay vào đó đã bắt đầu thảo ra một hệ thống chính phủ mới gồm có ngành hành pháp có nhiều quyền lực hơn trong khi vẫn duy trì hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực với chủ đích là ngăn chặn bất cứ ai có ý muốn trở thành "đế vương" khi đang làm tổng thống.

Các cá nhân chủ trì Quốc hội Lục địa trong thời Cách mạng Mỹ và dưới Hiến pháp Hợp bang có chức danh là "President of the United States in Congress Assembled" (có nghĩa là Tổng thống Hoa Kỳ tại Quốc hội nhóm họp), thường viết tắt thành "President of the United States" (Tổng thống Hoa Kỳ). Tuy nhiên, chức vụ này có ít quyền lực hành pháp riêng biệt. Sau khi Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua năm 1788, một ngành hành pháp riêng biệt được tạo ra và được Tổng thống Hoa Kỳ lãnh đạo.

Quyền hành pháp của tổng thống theo Hiến pháp Hoa Kỳ, bị kiềm chế bởi hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực của hai ngành lập pháp và tư pháp của chính phủ liên bang, được tạo ra để giải quyết một số vấn đề chính trị mà quốc gia non trẻ đang đối diện và lại phải đối phó với các thử thách trong tương lai trong lúc đó vẫn ngăn cản được sự trỗi dậy của một kẻ độc tài.

Trách nhiệm và quyền lực

Vai trò lập pháp theo Điều khoản I Hiến pháp

Quyền lực đầu tiên được Hiến pháp Hoa Kỳ quy định dành cho tổng thống là quyền phủ quyết của tổng thống đối với các quy trình lập pháp của Quốc hội Hoa Kỳ. Đoạn 2 và 3, Phần 7, Điều khoản 1, Hiến pháp Hoa Kỳ bắt buộc bất cứ đạo luật nào mà Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đều phải được trình lên tổng thống trước khi trở thành luật. Một khi đạo luật đã được trình lên thì tổng thống có ba sự chọn lựa:

  1. Ký văn bản luật và đạo luật sẽ trở thành luật.
  2. Phủ quyết văn bản luật, trả về Quốc hội kèm theo bất cứ lý do vì sao mình phản đối. Đạo luật sẽ không thành luật trừ khi cả hai viện lập pháp của Quốc hội biểu quyết với tỉ lệ 2/3 phiếu thuận để gạt bỏ sự phủ quyết của tổng thống.
  3. Không hành động gì. Trong trường hợp này, tổng thống không ký và cũng không phủ quyết văn bản luật. Sau 10 ngày, không kể chủ nhật, có hai trường hợp có thể xảy ra:
    • Nếu Quốc hội vẫn còn nhóm họp thì đạo luật trở thành luật.
    • Nếu Quốc hội không nhóm họp thì văn bản luật không thể trả về Quốc hội được. Lúc đó đạo luật không thành luật. Trường hợp này được biết đến là "pocket veto" (tạm dịch là "phủ quyết gián tiếp").

Năm 1996, Quốc hội tìm cách nâng cao quyền phủ quyết của tổng thống qua Đạo luật phủ quyết từng phần (Line Item Veto Act). Dự luật này cho phép tổng thống ký thành luật bất cứ đạo luật chi tiêu nào trong khi đó có quyền phủ quyết các mục chi tiêu nào đó trong đạo luật này, đặc biệt là bất cứ khoản chi tiêu mới nào, hay bất cứ tổng số chi tiêu nào, hoặc bất cứ lợi ích về thuế có giới hạn mới nào. Một khi tổng thống đã phủ quyết một mục nào đó trong đạo luật thì Quốc hội cũng có thể tái thông qua mục đó. Nếu tổng thống lại phủ quyết thì Quốc hội Hoa Kỳ có thể gạt bỏ sự phủ quyết của tổng thống bằng cách thông thường là biểu quyết với tỉ lệ 2/3 phiếu thuận tại cả hai viện lập pháp. Trong vụ kiện tụng Clinton đối đầu Thành phố New York, 524 U.S. 417 (1998), Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã phán quyết rằng việc thay đổi quyền lực phủ quyết như thế là vi hiến.

Điều khoản Hiến pháp II về quyền lực hành pháp

Quyền lực đối ngoại và chiến tranh

[[Tập tin:Abraham Lincoln head on shoulders photo portrait.jpg|nhỏ|upright|Abraham Lincoln, Tổng thống Hoa Kỳ thứ 16, người đã thành công giữ vững liên bang trong thời Nội chiến Hoa Kỳ.]]

Có lẽ điều quan trọng nhất trong số những quyền lực của tổng thống là quyền lực tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ trong vai trò tổng tư lệnh. Trong lúc quyền lực tuyên chiến được Hiến pháp đặt nằm trong tay Quốc hội thì tổng thống là người nắm quyền tư lệnh và điều khiển trực tiếp quân đội và có trách nhiệm lập kế hoạch chiến lược quân sự. Những vị khai sinh ra Hiến pháp Hoa Kỳ đã thận trọng trong việc giới hạn các quyền lực của tổng thống liên quan đến quân sự; Alexander Hamilton giải thích điều này trong bài viết Federalist số 69:
Tổng thống phải là tổng tư lệnh lục quân và hải quân của Hoa Kỳ.... Điều này không bao trùm hơn quyền tư lệnh tối cao và quyền điều khiển các lực lượng hải quân và quân sự... trong khi đó quyền lực này của vua Anh bao trùm cả việc tuyên chiến, tuyển mộ thành lập quân đội và đặt ra các quy định đối với các hạm đội và lục quân. Tất cả những quyền lực như thế... phải do quốc hội đảm trách.[3]
Quốc hội, theo Nghị quyết về Quyền lực Chiến tranh, phải cho phép bất cứ một cuộc khai triển quân đội nào kéo dài hơn 60 ngày. Ngoài ra, Quốc hội cũng đảm trách việc theo dõi quyền lực quân sự của tổng thống qua việc kiểm soát các quy định và chi tiêu quân sự.

Song song việc nắm giữ các lực lượng vũ trang, tổng thống cũng là người nắm giữ chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Qua Bộ Ngoại giao Hoa KỳBộ Quốc phòng Hoa Kỳ, tổng thống có trách nhiệm bảo vệ người Mỹ ở hải ngoại và công dân ngoại quốc tại Hoa Kỳ. Tổng thống có quyền quyết định việc có nên công nhận các quốc gia mới và chính phủ mới hay không, và thương thuyết các hiệp định với các quốc gia khác. Các hiệp định này có hiệu lực khi được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận với 2/3 số phiếu tán thành.

Mặc dù không được quy định trong hiến pháp nhưng tổng thống đôi khi cũng có quyền thực hiện những "thỏa ước hành pháp" trong quan hệ đối ngoại. Thông thường, những thỏa ước này có liên quan đến các vấn đề nằm trong phạm vi quyền lực hành pháp; thí dụ, thỏa ước với một quốc gia nào đó mà Hoa Kỳ có lực lượng quân sự hiện diện tại đó, cách nào để một quốc gia thi hành các hiệp định về bản quyền, hay làm sao để thực hiện việc giao dịch thư từ ngoại quốc. Tuy nhiên, thế kỷ XXI đã cho thấy rằng có một sự mở rộng rất lớn về những thỏa hiệp hành pháp như thế. Những người chỉ trích đã chống lại việc nới rộng việc sử dụng những thỏa ước hành pháp như thế vì chúng đã bỏ qua các quy trình tạo ra hiệp định và cũng như loại bỏ sự kiểm soát và cân bằng quyền lực mà hiến pháp đã quy định đối với ngành hành pháp trong quan hệ đối ngoại. Những người ủng hộ đáp trả lại rằng những thỏa ước như thế tạo ra một giải pháp mang tính thời đại khi nhu cầu hành động nhanh chóng, bí mật và đồng điệu ngày càng gia tăng.

Quyền lực hành pháp

Tổng thống là viên chức hành chính trưởng của Hoa Kỳ và như thế ông là người đứng đầu ngành hành pháp của chính phủ Hoa Kỳ. Trách nhiệm của tổng thống là "trông coi việc luật pháp được thi hành một cách trung thực." Để thực hiện bổn phận này, tổng thống được giao trách nhiệm nắm giữ 4 triệu công chức ngành hành pháp liên bang.

Tổng thống bổ nhiệm rất nhiều công chức trong ngành hành pháp: một vị tổng thống sắp nhận nhiệm sở có thể thâu nhận đến 6.000 viên chức trước khi ông nhận chức và thêm 8.000 người nữa trong suốt nhiệm kỳ của mình. Các đại sứ, các thành viên Nội các Hoa Kỳ, và những viên chức liên bang khác là được tổng thống bổ nhiệm với sự góp ý và ưng thuận của đa số tại Thượng viện Hoa Kỳ. Những cuộc bổ nhiệm viên chức được thực hiện vào thời điểm Thượng viện nghỉ họp chỉ có hiệu lực tạm thời và sẽ hết hạn vào lúc Thượng viện nhóm họp lại.

Quyền của tổng thống sa thải các viên chức hành pháp từ lâu nay là một vấn đề tranh chấp chính trị. Thông thường, tổng thống có quyền sa thải các viên chức hành pháp theo ý của mình.[4] Tuy nhiên, theo luật định thì Quốc hội có thể ngăn chặn và kiềm chế quyền của tổng thống khi sa thải các ủy viên của các cơ quan độc lập đặc trách về các quy định kiểm soát về các vấn đề đặc biệt nào đó hay một số các viên chức hành pháp cấp thấp.[5]

Tổng thống có khả năng điều hành phần nhiều ngành hành pháp bằng các sắc lệnh hành pháp. Những sắc lệnh này dựa vào luật liên bang hay quyền hành pháp mà Hiến pháp Hoa Kỳ ban cho và vì vậy có sức mạnh về mặt luật pháp. Những sắc lệnh hành pháp này có thể bị tòa án liên bang xem xét lại hoặc có thể bị vô hiệu quá bằng quy trình thay đổi luật.

Quyền tư pháp

Tổng thống cũng có quyền đề cử các thẩm phán liên bang trong đó bao gồm các phẩm phán tòa phúc thẩm và Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các thẩm phán được đề cử này phải được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận. Thật không dễ dàng đối với các vị tổng thống có ý định quay chiều hướng pháp lý liên bang về phía một lập trường tư tưởng đặc biệt nào đó bằng việc đề cử các vị thẩm phán có tư tưởng ủng hộ lập trường đó. Khi đề cử các thẩm phán tòa án sơ thẩm, tổng thống thường tôn trọng truyền thống xưa nay là hỏi thăm ý kiến của thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đại diện cho tiểu bang mà thẩm phán sẽ được đề cử. Tổng thống cũng có thể ban hành lệnh ân xá hay giảm án và việc này thường hay xảy ra ngay trước khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống của mình.

[[Tập tin:SOU2007.jpg|nhỏ|Tổng thống George W. Bush đọc Diễn văn về Tình trạng Liên bang năm 2007, cùng với Phó tổng thống Dick CheneyChủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi phía sau ông.]] Đặc quyền Hành pháp cho phép tổng thống cất giữ thông tin không cho Quốc hội và các tòa án liên bang xem với lý do vì vấn đề an ninh quốc gia. Tổng thống George Washington là người đầu tiên giành được đặc quyền này khi Quốc hội yêu cầu xem sổ ghi chép của Thẩm phán trưởng Hoa Kỳ, John Jay có liên quan đến một cuộc thương lượng điều đình không được công bố với Vương quốc Anh. Mặc dù không có ghi trong Hiến pháp Hoa Kỳ hay trong bất cứ luật nào nhưng hành động của Washington đã tạo ra tiền lệ cho đặc quyền này. Khi Tổng thống Richard Nixon tìm cách sử dụng đặc quyền hành pháp này như một lý do để không giao nộp những bằng chứng mà Quốc hội Hoa Kỳ đòi cung cấp trong Vụ tai tiếng Watergate, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã phán quyết vụ Hoa Kỳ đối đầu Nixon, 418 U.S. 683 (1974) rằng đặc quyền hành pháp không có hiệu lực trong trường hợp một vị tổng thống cố tìm cách tránh né truy tố hình sự. Khi Tổng thống Bill Clinton tìm cách sử dụng đặc quyền hành pháp có liên quan trong Vụ tai tiếng Lewinsky, Tối cao Pháp viện phán quyết vụ Clinton đối đầu Jones, 520 U.S. 681 (1997) rằng đặc quyền hành pháp cũng không được sử dụng trong những vụ thưa kiện dân sự. Các vụ kiện này đã lập nên tiền lệ rằng đặc quyền hành pháp được công nhận tuy nhiên phạm vi giới hạn của đặc quyền này vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng.

Đề xuất và phụ trợ làm luật

Mặc dù tổng thống không thể trực tiếp giới thiệu luật nhưng ông có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra luật, đặc biệt nếu đảng chính trị của tổng thống chiếm đa số ghế tại một hoặc hai viện của quốc hội. Mặc dù các viên chức ngành hành pháp bị ngăn cấm không được cùng lúc giữ ghế trong quốc hội và ngược lại nhưng các viên chức hành pháp thường hay thảo ra các quy trình luật và nhờ cậy vào các Thượng nghị sĩ và Dân biểu để giới thiệu luật thay cho họ. Tổng thống có thể tạo thêm ảnh hưởng đối với ngành lập pháp bằng những báo cáo thường kỳ mà Hiến pháp bắt buộc trước Quốc hội. Những báo cáo này có thể bằng văn bản hay được đọc trước Quốc hội. Tuy nhiên trong thời hiện đại, các báo cáo này được đọc trong hình thức "Diễn văn về Tình trạng Liên bang" trong đó tổng thống nêu ra những đề nghị về luật của mình cho năm trước mắt.

Theo Đoạn 2, Phần 3 của Điều khoản II, Hiến pháp Hoa Kỳ, tổng thống có thể triệu tập một hoặc cả hai viện của Quốc hội. Ngược lại, nếu cả hai viện không thể đồng ý được với nhau về 1 ngày nhóm họp thì tổng thống có thể chọn 1 ngày cho Quốc hội nhóm họp.

Tiến trình bầu tổng thống

[[Tập tin:Gilbert Stuart Williamstown Portrait of George Washington.jpg|nhỏ|upright|George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ]]

Điều kiện để trở thành tổng thống

Đoạn 5, Phần 1, Điều khoản II, Hiến pháp Hoa Kỳ có ấn định những điều kiện cơ bản mà một người cần hội đủ để trở thành Tổng thống Hoa Kỳ. Một vị tổng thống phải:

  • là một công dân Mỹ được sinh ra tại Hoa Kỳ;[6]
  • ít nhất là 35 tuổi;
  • là thường trú nhân tại Hoa Kỳ ít nhất là 14 năm.

Một người hội đủ các điều kiện nói trên nhưng vẫn không đủ tư cách để giữ chức tổng thống vì một trong các điều kiện sau đây:

  • Tu chính án 22 (năm 1951) quy định rằng không có người nào hội đủ điều kiện để được bầu làm tổng thống quá hai lần liên tiếp. Tu chính án 22 cũng có nói rõ rằng nếu bất cứ người nào hội đủ điều kiện để làm tổng thống hay quyền tổng thống trên hai năm của một nhiệm kỳ mà một người khác được bầu làm tổng thống (thí dụ người này thay thế một vị tổng thống bị truất phế) thì người này chỉ có thể được bầu làm tổng thống một lần mà thôi. Các học giả vẫn còn tranh cãi liệu có phải một người không còn hội đủ điều kiện để được bầu làm tổng thống vẫn có thể được bầu làm phó tổng thống theo như quy định về tiêu chuẩn đã được ấn định dưới Tu chính án 12.[7]
  • Theo Đoạn 7, Phần 3, Điều khoản I, Hiến pháp Hoa Kỳ, sau khi truy tố qua những cuộc luận tội, Thượng viện Hoa Kỳ có thể tước quyền của những cá nhân bị buộc tội và không cho phép họ giữ các chức vụ liên bang trong đó gồm có cả chức vụ tổng thống.[8]
  • Theo Phần 3 của Tu chính án 14, Hiến pháp Hoa Kỳ nghiêm cấm không cho một người hội đủ điều kiện (làm tổng thống) trở thành tổng thống nếu người này đã tuyện thệ trung thành ủng hộ Hiến pháp Hoa Kỳ nhưng sau đó lại nổi loạn chống Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Quốc hội có thể hủy bỏ lệnh cấm này bằng tỉ lệ 2/3 phiếu thuận ở cả hai viện quốc hội.

Đề cử và chiến dịch tranh cử

Template:Chính

Trong thời hiện đại, chiến dịch tranh cử tổng thống sẽ bắt đầu trước khi có các cuộc bầu cử sơ bộ. Hai đảng chính trị lớn của Hoa Kỳ (Dân chủ và Cộng hòa) dùng các cuộc bầu cử sơ bộ để tìm ra một số ứng cử viên trong đảng của mình trước khi đại hội đề cử toàn quốc của đảng mình khai mạc. Tại đại hội đảng đề cử toàn quốc, ứng cử viên nào thành công nhất trong các cuộc bầu cử sơ bộ sẽ được đề cử ra đại diện đảng của mình tranh cử chức vụ tổng thống. Thông thường thì ứng cử viên tổng thống của đảng sẽ tự chọn ra ứng cử viên phó tổng thống cho liên danh của mình và rồi được đại hội đề cử thông qua cho có lệ.

Các ứng cử viên tổng thống sau đó sẽ tham gia vào các cuộc tranh luận trực tiếp trên truyền hình toàn quốc. Mặc dù các cuộc tranh luận trực tiếp trên truyền hình toàn quốc chỉ thu hẹp vào phạm vi dành riêng cho các ứng cử viên thuộc đảng Dân chủ và Cộng hòa nhưng các ứng cử viên thuộc đảng thứ ba cũng có thể được mời tham dự, thí dụ như trường hợp của Ross Perot không thuộc đảng Cộng hòa hay Dân chủ được mời tham dự các cuộc tranh luận vào năm 1992. Các ứng cử viên sẽ vận động tranh cử khắp nơi tại Hoa Kỳ để giải thích quan điểm của họ, thuyết phục cử tri bầu cho họ và vận động gây quỹ tranh cử. Phần nhiều tiến trình bầu cử hiện đại hay tập trung quan tâm đến việc chiến thắng các tiểu bang chưa rõ ràng thắng bại (swing states) bằng các cuộc viếng thăm thường xuyên của các ứng cử viên đến các tiểu bang đó hay dựa vào chiến dịch vận động bằng quảng cáo rầm rộ qua các hệ thống truyền thông đại chúng.

Bầu cử và tuyên thệ

Template:Chính nhỏ|250px|Bản đồ Hoa Kỳ biểu thi số phiếu đại cử tri được phân bố cho mỗi tiểu bang; 270 phiếu đại cử tri cần có để đạt được đa số trong tổng số 538 phiếu đại cử tri.

Tổng thống được bầu gián tiếp tại Hoa Kỳ. Các đại cử tri, được gọi chung là đại cử tri đoàn là những người chính thức bầu chọn tổng thống. Vào ngày bầu cử, các cử tri tại mỗi tiểu bang và Đặc khu Columbia sẽ bỏ lá phiếu của mình để chọn các đại cử tri này. Mỗi tiểu bang được phân bố một con số đại cử tri bằng với tổng số đại diện của họ tại cả hai viện của Quốc hội cộng lại (tổng số dân biểu và thượng nghị sĩ đại diện cho mỗi tiểu bang). Thông thường, liên danh nào thắng được nhiều phiếu nhất tại mỗi tiểu bang sẽ giành được hết số phiếu đại cử tri của tiểu bang đó. Như thế khối đại cử tri thắng cử này sẽ được chọn đại diện cho tiểu bang mình ra bỏ phiếu ở đại cử tri đoàn.

Khối đại cử tri thắng cử sẽ họp tại thủ phủ của tiểu bang mình vào ngày thứ hai đầu tiên sau thứ tư lần thứ hai trong tháng 12, khoảng 6 tuần sau khi cuộc bầu cử để bỏ phiếu của mình. Lúc đó họ sẽ gởi một bản báo cáo về cuộc bỏ phiếu đó đến Quốc hội. Phiếu của các đại cử tri sẽ được phó tổng thống đương nhiệm trong tư cách là Chủ tịch Thượng viện mở ra và đọc lớn trước một phiên họp chung gồm có cả hạ viện và thượng viện của Quốc hội sắp tới (Quốc hội này được bầu cùng lúc với cuộc bầu cử tổng thống).

Theo Tu chính án 12, nhiệm kỳ của tổng thống bắt đầu vào đúng trưa ngày 20 tháng 1 của năm theo sau cuộc bầu cử. Vào ngày này, được biết là ngày nhậm chức, đánh dấu sự khởi đầu nhiệm kỳ bốn năm của cả tổng thống và phó tổng thống. Trước khi hành xử quyền lực chức vụ, một vị tổng thống, theo hiến pháp quy định, phải tuyên thệ nhậm chức:
Tôi trịnh trọng tuyên thệ (hay xác nhận) rằng tôi sẽ hành xử chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ một cách trung thành, và sẽ cố gắng hết khả năng của mình bảo tồn, bảo vệ và che chở Hiến pháp Hoa Kỳ.[9]

Mặc dù không bắt buộc nhưng các tổng thống có truyền thống sử dụng một quyển thánh kinh để tuyên thệ nhậm chức và đọc thêm lời cuối "thế xin Thượng đế giúp tôi!" để kết thúc lời tuyên thệ. Hơn nữa, mặc dù không có luật lệ nào quy định rằng lời tuyên thệ nhậm chức phải được một người đặc biệt nào đó chủ trì nhưng theo truyền thống thì người đó là Thẩm phán trưởng Hoa Kỳ.

Nhiệm kỳ và giới hạn nhiệm kỳ

[[Tập tin:FDR in 1933.jpg|nhỏ|upright|Franklin D. Roosevelt được bầu bốn nhiệm kỳ trước khi Tu chính án 22 được thông qua.]] Nhiệm kỳ chức vụ tổng thống và phó tổng thống là bốn năm. George Washington, Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên, đã tạo ra một tiền lệ không chính thức khi chỉ phục vụ hai nhiệm kỳ bốn năm mà sau đó đã được các tổng thống kế nhiệm làm theo cho đến năm 1940. Trước thời Tổng thống Franklin D. Roosevelt cũng đã có hai tổng thống đã tìm cách ra tranh cử nhiệm kỳ ba vì được những người ủng hộ khuyến khích, đó là Tổng thống Ulysses S. GrantTheodore Roosevelt. Tuy nhiên cả hai đều không thành công. Năm 1940, Franklin Roosevelt từ chối ứng cử nhiệm kỳ ba nhưng đã cho phép đảng chính trị của mình "chiêu mộ" mình làm ứng cử viên tổng thống cho đảng và sau đó được bầu làm tổng thống nhiệm kỳ 3. Năm 1941, Hoa Kỳ lâm trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Chính vì Chiến tranh thế giới thứ hai nên cử tri sau đó lại bầu Roosevelt lần thứ tư vào năm 1944.

Sau chiến tranh và để đối phó với tình trạng làm đảo lộn tiền lệ của Roosevelt, Tu chính án 22 được thông qua. Tu chính án này nghiêm cấm không cho bất cứ một ai được bầu làm tổng thống quá hai lần hoặc quá 1 lần nếu như người đó đã phục vụ hơn phân nửa nhiệm kỳ của một vị tổng thống khác (thay thế hoặc làm quyền tổng thống). Tổng thống Harry S. Truman, người làm tổng thống khi tu chính án này được thông qua, và vì thế không bị ảnh hưởng bởi quy định của tu chính án này nên ông đã tìm cách ứng cử lần thứ ba nhưng sau đó rút lui khỏi cuộc bầu cử tổng thống năm 1952.

Kể từ khi tu chính án 22 được thông qua, năm vị tổng thống đã phục vụ hết hai nhiệm kỳ của mình: Dwight D. Eisenhower, Ronald Reagan, Bill Clinton, George W. BushBarack Obama. Jimmy CarterGeorge H. W. Bush tái ứng cử lần thứ hai nhưng bị đánh bại. Richard Nixon được bầu vào nhiệm kỳ hai nhưng từ chức trước khi kết thúc nhiệm kỳ hai của minh. Lyndon B. Johnson là tổng thống duy nhất theo tu chính án 22 có quyền phục vụ hơn hai nhiệm kỳ vì ông thay thế chức vụ tổng thống có 14 tháng sau khi Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát (ít hơn 2 năm). Tuy nhiên, Johnson rút tên ra khỏi cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ năm 1968 và làm cho người Mỹ ngạc nhiêm khi tuyên bố rằng "Tôi sẽ không tìm cách và tôi sẽ không chấp thuận sự đề cử từ đảng của tôi cho một nhiệm kỳ nữa trong vai trò tổng thống." Gerald Ford ra tranh cử cho một nhiệm kỳ sau khi phục vụ 2 năm và 5 tháng cuối trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Nixon nhưng thất cử.

Chức vụ bỏ trống hay tàn tật

Template:Xem thêm Ghế tổng thống bị bỏ trống có thể xảy ra trong một số tình trạng khả dĩ như sau: qua đời, từ chức và bị truất phế.

Phần 4, Điều khoản II, Hiến pháp Hoa Kỳ cho phép Hạ viện Hoa Kỳ luận tội các viên chức cao cấp liên bang trong đó có tổng thống vì tội "phản quốc, hối lộ, hoặc tội đại hình và những sai trái khác." Đoạn 6, Phần 3, Điều khoản I cho phép Thượng viện Hoa Kỳ quyền lực truất phế các viên chức bị luận tội bằng việc biểu quyết với tỉ lệ 2/3 số phiếu để có hiệu lực. Tính đến nay, Hạ viện Hoa Kỳ đã luận tội hai vị tổng thống: Andrew Johnson năm 1868 và Bill Clinton năm 1998. Đến cuối cùng cả hai đều không bị Thượng viện kết tội; tuy nhiên, Johnson được tha bổng bởi tỉ lệ bằng một lá phiếu.

Theo Phần 3, Tu chính án 25, tổng thống có thể chuyển giao quyền lực và trách nhiệm của tổng thống cho phó tổng thống, người sau đó trở thành quyền tổng thống bằng cách gởi 1 lời tuyên bố đến Chủ tịch Hạ viện Hoa KỳChủ tịch Thượng viện Tạm quyền Hoa Kỳ nói rõ những lý do vì sao có sự chuyển quyền. Tổng thống nhận lại quyền lực và trách nhiệm tổng thống bằng việc chuyển một bản thông báo viết tay đến hai viên chức kể trên, nói rõ việc nhận lại quyền lực. Sự chuyển giao quyền lực này có thể xảy ra vì nhiều lý do khi tổng thống nghĩ rằng thích hợp; năm 2002 và rồi năm 2007, Tổng thống George W. Bush đã chuyển giao quyền lực tổng thống ngắn ngủi cho Phó Tổng thống Dick Cheney. Trong cả hai trường hợp, việc chuyển giao quyền lực được thực hiện để giúp tiện lợi cho 1 quá trình kiểm tra y khoa mà khi đó Tổng thống Bush phải được gây mê; cả hai lần, Tổng thống Bush nhận lại quyền lực sau đó trong ngày.[10]

Theo Phần 4, Tu chính án 25, phó tổng thống và đa số viên chức trong nội các có thể chuyển giao trách nhiệm và quyền lực tổng thống từ tổng thống đến phó tổng thống một khi họ chuyển đạt một thông báo viết tay đến Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ và Chủ tịch Thượng viện Tạm quyền rằng tổng thống không thể đảm trách được quyền lực và trách nhiệm tổng thống. Nếu điều này xảy ra, lúc đó phó tổng thống sẽ nhận trách nhiệm và quyền lực tổng thống trong vai trò quyền tổng thống; tuy nhiên, tổng thống có thể tuyên bố rằng không có chuyện tổng thống không thể đảm trách được trách nhiệm và quyền lực tổng thống và như vậy tổng thống có thể tiếp nhận lại quyền lực và trách nhiệm tổng thống của mình. Nếu như phó tổng thống và nội các vẫn tranh chấp tuyên bố của tổng thống thì sự việc phải được đưa ra Quốc hội quyết định. Quốc hội phải họp trong vòng hai ngày nếu Quốc hội đang trong lúc nghỉ họp để quyết định tính xác thật của lời tuyên bố nói trên.

Hiến pháp Hoa Kỳ có nói đến sự từ chức tổng thống nhưng không có quy định về hình thức của một sự từ chức như thế hay những điều kiện đáng để từ chức. Theo luật liên bang, bằng chứng của việc từ chức tổng thống có giá trị duy nhất là một văn kiện viết tay đề cập đến hiệu lực của việc từ chức đó, được tổng thống ký tên và được chuyển giao đến văn phòng của bộ trưởng ngoại giao.[11] Vào ngày 9 tháng 8 năm 1974, khi đối mặt với một cuộc luận tội có thể xảy ra vì Vụ tai tiếng Watergate, Tổng thống Richard Nixon đã trở thành vị tổng thống Hoa Kỳ duy nhất từ chức.

Thứ tự kế nhiệm tổng thống

Hiến pháp Hoa Kỳ có nói rằng phó tổng thống sẽ trở thành tổng thống nếu như tổng thống đương nhiệm bị truất phế, qua đời hay từ chức. Nếu như cả hai văn phòng tổng thống và phó tổng thống đều bị bỏ trống hay có người bị thương tật tàn phế thì viên chức kế tiếp trong thứ tự kế nhiệm tổng thống sẽ là Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ. Thứ tự kế nhiệm sau đó được mở rộng xuống đến Chủ tịch Thượng viện Tạm quyền, rồi đến các thành viên nội các với một thứ tự đã được định trước.

Dưới đây là danh sách thứ tự kế nhiệm tổng thống hiện thời,[12] như đã được ghi rõ chi tiết trong Hiến pháp Hoa Kỳ và Đạo luật Kế nhiệm Tổng thống năm 1947 (Template:USCode) và các tu chính án sau này để thêm vào các bộ trưởng mới được thành lập. Template:Lỗi thời

Đảng chính trị
Chú thích Cộng hoà
Dân chủ
Độc lập
# Văn phòng Viên chức hiện tại
1 Phó tổng thống Mike Pence
2 Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi
3 Chủ tịch Thượng viện Tạm quyền Charles Grassley
4 Bộ trưởng Ngoại giao Mike Pompeo
5 Bộ trưởng Ngân khố Steven Mnuchin
6 Bộ trưởng Quốc phòng Patrick M. Shanahan [a]
7 Bộ trưởng Tư pháp Matthew Whitaker [b]
8 Bộ trưởng Nội vụ David Bernhardt [a]
9 Bộ trưởng Nông nghiệp Sonny Perdue
10 Bộ trưởng Thương mại Wilbur Ross
11 Bộ trưởng Lao động Alexander Acosta
12 Bộ trưởng Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Alex Azar
13 Bộ trưởng Gia cư và Phát triển Đô thị Ben Carson
Bộ trưởng Giao thông Elaine Chao [c]
14 Bộ trưởng Năng lượng Rick Perry
15 Bộ trưởng Giáo dục Betsy DeVos
16 Bộ trưởng Cựu Chiến binh Robert Wilkie
17 Bộ trưởng Nội an Kirstjen Nielsen

[a]: Quyền Bộ trưởng và đủ điều kiện kế vị chức vụ Tổng thống

[b]: Quyền Bộ trưởng Tư pháp nhưng không đủ điều kiện kế vị chức vụ Tổng thống

[c]: công dân không sinh tại lãnh thổ Hoa Kỳ, vì vậy không đủ điều kiện làm Tổng thống

Bổng lộc

Lịch sử lương tổng thống
Ngày lập Lương Lương tính theo giá trị đô la Mỹ năm 2009

dollars

24 tháng 9 năm 1789 $25.000 $566.000
3 tháng 3 năm 1873 $50.000 $865.000
4 tháng 3 năm 1909 $75.000 $1.714.000
19 tháng 1 năm 1949 $100.000 $906.000
20 tháng 1 năm 1969 $200.000 $1.175.000
20 tháng 1 năm 2001 $400.000 $487.000
Nguồn:[13][14][15]

Tổng thống Hoa Kỳ nhận được tiền lương là $400.000/năm cùng với 1 tài khoản chi tiêu $50.000/năm, một tài khoản $100.000 không tính thuế dành cho du hành và $19.000 cho giải trí.[16][17] Việc tăng lương tổng thống gần đây nhất đã được Quốc hội Hoa Kỳ và Tổng thống Bill Clinton chấp thuận vào năm 1999 và có hiệu lực vào năm 2001.

Nhà TrắngWashington, D.C. phục vụ trong vai trò là nơi cư ngụ dành cho tổng thống; ông được quyền sử dụng toàn bộ nhân viên và cơ sở của tòa nhà này trong đó gồm có các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giải trí, giúp việc nhà, và an ninh. Cơ sở Hỗ trợ Hải quân Thurmont, nổi tiếng với biệt danh Trại David, là một trại quân sự nằm trên núi trong Quận Frederick, Maryland được dùng làm nơi nghỉ ngơi miền quê cũng như được dùng để bảo vệ tổng thống và khách mời của ông khi có mức báo động cao. Blair House, nằm gần Tòa Cựu Văn phòng Hành chính ở Khu phức hợp Tòa Bạch Ốc và Công viên Lafayette, là một tòa nhà phức hợp gồm có bốn ngôi nhà phố dính liền nhau có tổng diện tích sàn rộng hơn 70,000 square feet (6,500 m2) và phục vụ trong vai trò của một nhà khách chính thức của tổng thống và nó cũng là nơi cư ngụ thứ hai của tổng thống khi cần thiết.[18]

Để du hành bằng đường bộ, tổng thống sử dụng công xa tổng thống, đây là một chiếc xe limousine bọc thép được chế tạo với sườn xe Cadillac được cải tiến rất nhiều.[19] Một trong hai phi cơ Boeing VC-25 giống nhau, phiên bản cải tiến từ loại phi cơ chở khách Boeing 747-200B, phục vụ tổng thống trên những đoạn đường du hành dài. Chúng được gọi tên là Air Force One khi tổng thống có mặt trên phi cơ.[20][21] Tổng thống cũng dùng một chiếc trực thăng của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, được gọi tên là Marine One khi tổng thống lên chiếc phi cơ trực thăng này.

Sở Mật vụ Hoa Kỳ có nhiệm vụ bảo vệ tổng thống đương nhiệm và gia đình của ông. Như một phần của công việc bảo vệ họ, tổng thống, Đệ Nhất Phu nhân, con cái và thân nhân gần khác của họ, các yếu nhân khác hay những địa điểm khác đều có mật danh do Sở Mật vụ Hoa Kỳ đặt.[22] Lúc đầu việc sử dụng những mật danh như thế là vì mục đích an ninh và có lịch sử trở về thời kỳ mà việc liên lạc điện tử có yếu tố nhạy cảm chưa được mã hóa; ngày nay, các mật danh này chỉ phục vụ vì mục đích ngắn ngọn, rõ ràng và theo truyền thống.[23][24]

Hậu tổng thống

[[Tập tin:FordNixonBushReaganCarter.jpg|nhỏ|Các tổng thống Gerald Ford, Richard Nixon, George H. W. Bush, Ronald ReaganJimmy Carter năm 1991.]] [[Tập tin:Five Presidents Oval Office.jpg|nhỏ|alt=Hình chụp năm vị tổng thống với trang phục áo veston và cà vạt màu đậm|Các tổng thống George H. W. Bush, Barack Obama, George W. Bush, Bill Clinton, và Jimmy Carter năm 2009.]]

Bắt đầu vào năm 1959, tất cả các cựu tổng thống còn sống được nhận tiền hưu bổng, một văn phòng làm việc và một ban nhân sự. Tiền hưu bổng đã được tăng nhiều lần với sự chấp thuận của Quốc hội. Các tổng thống về hưu hiện nay nhận được tiền hưu bổng theo tiền lương của các bộ trưởng nội các của chính phủ đương nhiệm là $191.300 tính đến năm 2008.[25] Một số cựu tổng thống cũng nhận được tiền hưu bổng quốc hội.[26] Đạo luật Cựu Tổng thống, như đã được tu chính, cũng cung cấp cho các cựu tổng thống quỹ du hành và những đặc quyền ưu tiên.

Tính đến năm 1997, tất cả các cựu tổng thống và gia đình của họ đều được Sở Mật vụ Hoa Kỳ bảo vệ cho đến khi cựu tổng thống qua đời. Cựu tổng thống cuối cùng được Sở Mật vụ Hoa Kỳ bảo vệ trọn đời là Bill Clinton. Các cựu tổng thống về sau này như George W. Bush và các cựu tổng thống tương lại sẽ được Sở Mật vụ Hoa Kỳ bảo vệ tối đa là 10 năm sau khi rời nhiệm sở.[27]

Một số tổng thống có nghiệp vụ nổi bật sau khi rời nhiệm sở. Thí dụ nổi bật gồm có William Howard Taft trở thành Thẩm phán trưởng Hoa KỳHerbert Hoover làm việc trong chương trình tái tổ chức chính phủ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Grover Cleveland thất bại trong cuộc tái ứng cử chức vụ tổng thống vào năm 1888 nhưng lại đắc cử tổng thống 4 năm sau đó vào năm 1892. Hai cựu tổng thống phục vụ tại Quốc hội Hoa Kỳ sau khi rời Tòa Bạch Ốc: John Quincy Adams được bầu vào Hạ viện Hoa Kỳ, phục vụ ở đó 17 năm và Andrew Johnson trở lại Thượng viện Hoa Kỳ năm 1875. John Tyler phục vụ trong Quốc hội tạm thời của Liên minh miền Nam Hoa Kỳ trong thời Nội chiến Hoa Kỳ và được bầu vào Hạ viện Liên minh miền Nam nhưng qua đời trước khi hạ viên này nhóm họp. Gần đây hơn, Richard Nixon đã thực hiện rất nhiều chuyến du hành ngoại quốc đến các quốc gia như Trung Quốc, Nga và được ca ngợi như một chính khách lão thành.[28] Jimmy Carter trở thành người vận động cho nhân quyền trên toàn cầu, giám sát bầu cử và phân giải quốc tế và là người nhận Giải Nobel Hòa bình. Bill Clinton đã làm một số công việc như một chính khách lão thành, nổi bật nhất là việc ông thực hiện các cuộc điều đình dẫn đến việc Bắc Hàn thả hai nhà báo Mỹ là Laura LingEuna Lee. Bill Clinton cũng tích cực hoạt động chính trị từ khi rời nhiệm sở. Ông đã làm việc cùng với phu nhân của mình là Hillary Clinton trong chiến dịch tranh cử tổng thống của bà.

Hiện nay có bốn cựu tổng thống còn sống:

Thư viện tổng thống

Template:Chính Mỗi tổng thống kể từ Herbert Hoover đã xây dựng một kho sách được biết với tên gọi là thư viện tổng thống để lưu giữ và giúp bạn đọc có thể tìm đọc các bài viết, tài liệu và những văn kiện khác của tổng thống. Các thư viện này khi hoàn thành sẽ được làm chứng thư giao cho Cơ quan Quản trị Văn khố và Hồ sơ Quốc gia Hoa Kỳ bảo trì; ngân quỹ ban đầu để xây dựng và trang bị mỗi thư viện phải là ngân quỹ tư nhân, không phải ngân quỹ liên bang. Hiện thời có tất cả 13 thư viện tổng thống trong hệ thống của Cơ quan Quản trị Văn khố và Hồ sơ. Cũng có một số thư viện tổng thống được chính quyền tiểu bang và quỹ tư nhân bảo trì, thí dụ như Bảo tàng và Thư viện Tổng thống Abraham Lincoln được điều hành bởi tiểu bang Illinois.

Dòng thời gian các tổng thống

<timeline> ImageSize = width:400 height:1600 PlotArea = left:45 right:0 bottom:150 top:20 Legend = columns:1 left:40 top:100 AlignBars = early

Colors=

 id:grid     value:gray(0.80)
 id:grid2    value:gray(0.95)
 id:NP  value:rgb(1,1,0.8)      legend:Không_đảng_phái 
 id:Fed  value:rgb(0.9,0.9,0.6) legend:Liên_bang
 id:DR   value:green            legend:Dân_chủ-Cộng_hòa
 id:Dem  value:blue             legend:Dân_chủ
 id:Wh  value:yellow            legend:Whig
 id:Rep   value:red             legend:Cộng_hòa

DateFormat = yyyy Period = from:1789 till:2021 TimeAxis = orientation:vertical order:reverse ScaleMajor = grid:grid unit:year increment:4 start:1789 ScaleMinor = grid:grid2 unit:year increment:1 start:1789

PlotData=

 bar:Leaders width:30 mark:(line,white) align:left fontsize:M shift:(25,-5) anchor:middle
 from:1789  till:1797 color:NP   text:"George Washington 1789–1797"
 from:1797  till:1801 color:Fed  text:"John Adams 1797–1801"
 from:1801  till:1809 color:DR   text:"Thomas Jefferson 1801–1809"
 from:1809  till:1817 color:DR   text:"James Madison 1809–1817"
 from:1817  till:1825 color:DR   text:"James Monroe 1817–1825"
 from:1825  till:1829 color:DR   text:"John Quincy_Adams 1825–1829"
 from:1829  till:1837 color:Dem  text:"Andrew Jackson 1829–1837"
 from:1837  till:1841 color:Dem  text:"Martin Van Buren 1837–1841"    shift:(25,+5)
 from:1841  till:1841 color:Wh   text:"William Henry Harrison 1841"
 from:1841  till:1845 color:Wh   text:"John Tyler 1841–1845"          shift:(25,-10)
 from:1845  till:1849 color:Dem  text:"James K. Polk 1845–1849"       
 from:1849  till:1850 color:Wh   text:"Zachary Taylor 1849–1850"      shift:(25,-6)
 from:1850  till:1853 color:Wh   text:"Millard Fillmore 1850–1853"    shift:(25,-9)
 from:1853  till:1857 color:Dem  text:"Franklin Pierce 1853–1857"
 from:1857  till:1861 color:Dem  text:"James Buchanan 1857–1861"
 from:1861  till:1865 color:Rep  text:"Abraham Lincoln 1861–1865"
 from:1865  till:1869 color:Dem  text:"Andrew Johnson 1865–1869"
 from:1869  till:1877 color:Rep  text:"Ulysses S. Grant 1869–1877"
 from:1877  till:1881 color:Rep  text:"Rutherford B. Hayes 1877–1881" shift:(25,+3)
 from:1881  till:1881 color:Rep  text:"James A. Garfield 1881"     
 from:1881  till:1885 color:Rep  text:"Chester A. Arthur 1881–1885"   shift:(25,-8)
 from:1885  till:1889 color:Dem  text:"Grover Cleveland 1885–1889"
 from:1889  till:1893 color:Rep  text:"Benjamin Harrison 1889–1893"
 from:1893  till:1897 color:Dem  text:"Grover Cleveland 1893–1897"
 from:1897  till:1901 color:Rep  text:"William McKinley 1897–1901"
 from:1901  till:1909 color:Rep  text:"Theodore Roosevelt 1901–1909"
 from:1909  till:1913 color:Rep  text:"William Howard Taft 1909–1913"
 from:1913  till:1921 color:Dem  text:"Woodrow Wilson 1913–1921"
 from:1921  till:1923 color:Rep  text:"Warren G. Harding 1921–1923"
 from:1923  till:1929 color:Rep  text:"Calvin Coolidge 1923–1929"
 from:1929  till:1933 color:Rep  text:"Herbert Hoover 1929–1933"
 from:1933  till:1945 color:Dem  text:"Franklin D. Roosevelt 1933–1945"
 from:1945  till:1953 color:Dem  text:"Harry S. Truman 1945–1953"
 from:1953  till:1961 color:Rep  text:"Dwight D. Eisenhower 1953–1961"
 from:1961  till:1963 color:Dem  text:"John F. Kennedy 1961–1963"
 from:1963  till:1969 color:Dem  text:"Lyndon B. Johnson 1963–1969"
 from:1969  till:1974 color:Rep  text:"Richard Nixon 1969–1974"
 from:1974  till:1977 color:Rep  text:"Gerald Ford 1974–1977"
 from:1977  till:1981 color:Dem  text:"Jimmy Carter 1977–1981"
 from:1981  till:1989 color:Rep  text:"Ronald Reagan 1981–1989"
 from:1989  till:1993 color:Rep  text:"George H. W. Bush 1989–1993"
 from:1993  till:2001 color:Dem  text:"Bill Clinton 1993–2001"
 from:2001  till:2009 color:Rep  text:"George W. Bush 2001–2009"
 from:2009  till:2017 color:Dem  text:"Barack Obama 2009–2017"
 from:2017  till:2018 color:Rep  text:"Donald Trump 2017–nay"

</timeline>

Chỉ trích

Những chỉ trích đối với tổng thống thường rơi vào một trong các mục sau đây:

Tổng thống quá quyền lực
Đa số những người lập quốc Hoa Kỳ kỳ vọng rằng Quốc hội Hoa Kỳ, được nói đến trước tiên trong Hiến pháp Hoa Kỳ, sẽ là ngành có nhiều ảnh hưởng chi phối chính phủ. Họ không muốn hay kỳ vọng đến một ngành hành pháp mạnh mẽ.[29] Tuy nhiên, vô số những người chỉ trích ngày nay cho rằng tổng thống quá nhiều quyền lực,[30][31] không bị kiểm soát và cân bằng quyền lực[32] và bản chất giống như "đế vương".[33] Người chỉ trích là Dana D. Nelson tin rằng các vị tổng thống suốt hơn 30 năm qua đã tìm cách tiến tới việc nắm trọn, không phân chia quyền lực tổng thống đối với ngành hành pháp và các cơ quan của ngành."[34] Bà chỉ trích những người ủng hộ hành pháp đơn nhất vì điều đó khiến mở rộng "nhiều quyền lực hành pháp không bị kiểm soát vốn đã tồn tại – thí dụ như những lệnh hành pháp, sắc lệnh, tuyên cáo, giác thư, chỉ thị an ninh quốc gia – đã cho phép tổng thống hành xử rất nhiều chính sách đối nội và đối ngoại mà không cần sự trợ giúp, can thiệp hoặc ưng thuận từ Quốc hội."[34] Những học giả về hiến pháp đã chỉ quyền lực quá mức của tổng thống[35] và cho rằng tổng thống giống như "những nhà độc tài lập hiến" có "động cơ để tuyên bố tình trạng khẩn cấp" nhằm nắm lấy quyền lực "gần giống như độc tài."[36] David Sirota nhận thấy có một mô hình "với mục tiêu cung cấp một cơ sở hợp pháp cho quyền lực tối cao toàn phần của Tòa Bạch Ốc đối với toàn chính phủ."[37][38] Một người chỉ trích khác viết rằng quyền lực tổng thống mở rộng là "mối đe dọa lớn nhất chưa từng thấy đối với sự tự do cá nhân và luật pháp dân chủ."[39]
Hình ảnh và quan hệ công chúng
Một số người cho rằng hình ảnh của tổng thống có chiều hướng bị các viên chức hành pháp đặc trách quan hệ công chúng và chính tổng thống ngụy tạo nên. Một người chỉ trích diễn tả tổng thống giống như "giới lãnh đạo bị tuyên truyền" mà có một "quyền lực mê hoặc quanh chức vị này";[40] một người chỉ trích khác diễn tả hiện tượng quanh chức vị tổng thống bằng từ "cult", có nghĩa là sự sùng bái[38] Những quan chức điều hành về quan hệ công chúng của chính phủ đã dàn cảnh một cách mưu mẹo những dịp ghi hình có tổng thống đang tươi cười với đám đông cũng đang tươi cười cho các máy quay thu hình; chẳng hạn về một buổi ghi hình truyền hình, những khán giả xem truyền hình đã bị yếu tố hình ảnh của tổng thống chi phối hơn là câu chuyện thật về buổi thu hình đó.[41] Một người chỉ trích viết rằng hình ảnh của John F. Kennedy được diễn tả hư cấu một cách thận trọng với đầy đủ chi tiết nhằm "vẽ ra một huyền thoại" có liên quan đến sự kiện PT 109[42] và tuyên bố rằng Kennedy đã hiểu cách sử dụng hình ảnh để nâng cao tham vọng tổng thống của mình.[43] Ngay cả tang lễ tổng thống cũng được sắp đặt cẩn thận với giá trị năng suất cao nhằm tạo ra một cảm xúc về "uy quyền đế vương".[44] Kết quả là người Mỹ có những kỳ vọng không thực tiễn từ tổng thống, người được kỳ vọng "lèo lái nền kinh tế, chế ngự kẻ thù, dẫn dắt thế giới tự do, an ủi nạn nhân lốc xoáy, làm lành linh hồn quốc gia và bảo vệ người mượn nợ chống lại những loại tiền phí ẩn hình mà các loại thẻ tín dụng áp đặt."[45]
Chi tiêu thâm thủng
Trong suốt 100 năm qua, ít có vị tổng thống nào tinh thông trong việc kiềm chế mức chi tiêu nằm trong giới hạn. Các tổng thống hứa hẹn kiểm soát chi tiêu nhưng trên thực tế đã khó kiểm soát nổi ngân sách.[46] Mô hình lịch sử dài hạn đối với việc chi tiêu của chính phủ Hoa Kỳ là có chút ít thặng dư trừ khi quốc gia gặp phải suy soái kinh tế hay chiến tranh, và mô hình này đã kéo dài cho đến thập niên 1980.[47] Tổng thống Ronald Reagan đã làm gia tăng thâm thủng chi tiêu rất đáng kể trong lúc quốc gia không bị khủng hoảng kinh tế hay chiến tranh, và những thâm thủng ngân sách này, tính theo phần trăm GDP, tăng lên từ 1,6% năm 1979 đến 4,0% và 6,0% trong phần lớn thập niên 1980[48] mặc dù có một thời gian dài bốn năm có thặng dư, bắt đầu từ năm 1998 trong thời Tổng thống Bill Clinton và Tổng thống George W. Bush. Sau sự kiện 11 tháng 9, chi tiêu thâm thủng trở lại dưới thời Tổng thống Bush và giữ ở mức độ cao.[48] Năm 2009, văn phòng ngân sách ước tính tổng số nợ liên bang sẽ lên đến $12 ngàn tỷ đô la, trong đó gồm có $565 tỷ đô la tiền lời phải trả, hay 4 phần trăm GDP.[49] Trong 1 thập niên đầu của thế kỷ XXI, $632 tỉ đã được thêm vào ngân sách.[50] Năm 2009, theo ước tính, Hoa Kỳ có thể bị bắt buộc mượn nợ gần $9,3 ngàn tỉ trong vòng 10 năm tới.[51] Một người chỉ trích đồng thời cũng là một thượng nghị sĩ cảnh báo rằng điều này "gần như tạo ra một kịch bản mà trong đó quốc gia này sẽ lâm vào tình trạng phá sản."[51] Năm 2009, Tổng thống Barack Obama thừa kế một ngân sách thâm thủng choáng váng lên đến 10% GDP.[48] Mức độ cao những việc làm liên bang được mang đến từ chương trình New Deal của Tổng thống Franklin D. Roosevelt vẫn được duy trì ở mức độ đều so với sự tăng trưởng dân số và kinh tế. Thí dụ, năm 1962 có khoảng 13,3 nhân công liên bang cho mỗi 1000 người trong khi đó vào năm 2007 chỉ có 8,7 nhân công liên bang cho mỗi 1000 người, tổng cộng giảm khoảng 1 triệu việc làm.[52] Dù vậy, tổng số nhân sự liên bang năm 2007 là 4.127.000 làm việc trong các cơ quan của chính phủ liên bang. Ngoài ra, con số nhân viên làm việc cho tiểu bang và chính quyền địa phương đã tăng gấp đôi kể từ thập niên 1960.[52]
Chi tiêu của chính phủ liên bang từ năm 1940–nay
Thập niên Chi tiêu tính theo % GDP Thặng dư (+) hay Thâm thủng (-)?
1940 -9,67 Thâm thủng
1950 -0,39 Thâm thủng
1960 -0,79 Thâm thủng
1970 -2,37 Thâm thủng
1980 -3,93 Thâm thủng
1990 -2,16 Thâm thủng
2000 -1,62 Thâm thủng
Ghi chú: Thâm thủng lớn nhất là thời Chiến tranh thế giới thứ hai. 1998–2002 có thặng dư. Để cho ngắn gọn, các con số hàng năm được kết hợp lại thành con số trung bình cho 10 năm. Nguồn: Sở thống kê Chính phủ Hoa Kỳ.[47]
Quyền lực đối với lập pháp và ngân sách
Một số người chỉ trích tố cáo rằng các tổng thống đã lấn chiếm nhiều quyền lực quan trọng thuộc lập pháp và ngân sách mà thông thường phải thuộc về Quốc hội Hoa Kỳ. Tổng thống kiểm soát một số lượng lớn các cơ quan liên bang đặc trách việc tạo ra những quy định luật lệ nhưng chỉ có ít sự theo dõi của quốc hội. Một người chỉ trích khác tố cáo rằng tổng thống có thể bổ nhiệm một "đội quân gồm nhiều 'sa hoàng' ảo – những người này hoàn toàn không có trách nhiệm gì với Quốc hội nhưng được giao phó nhiệm vụ dẫn đầu những nỗ lực về chính sách lớn của Tòa Bạch Ốc".[53] Các tổng thống đã bị chỉ trích vì thực hiện những tuyên bố bằng văn thư để giải thích họ hiểu một đạo luật ra sao hay có kế hoạch gì để thực thi đạo luật này (signing statements) khi ký các đạo luật quốc hội. Những người chỉ trích diễn tả hành động này là ngược lại tinh thần của Hiến pháp Hoa Kỳ.[54] Những tuyên bố bằng văn thư như thế "làm lật cán cân quyền lực giữa Quốc hội và Tòa Bạch Ốc một ít theo chiều có lợi cho ngành hành pháp"[55] và chúng đã được bốn tổng thống trước đây sử dụng.[56][57] Hành vi này bị Hội Luật sư Mỹ chỉ trích là bất hợp hiến.[58] Một người chỉ trích là George F. Will nhận thấy "một ngành hành pháp càng ngày càng phình to ra" và "sự lu mờ của Quốc hội". Ông cho rằng diễn biến này đã và đang tiếp tục kéo dài "hàng thập niên"[59] và ông cũng đã chỉ trích "sự lu mờ" của Quốc hội.[59]
Lạm quyền
Đôi khi các tổng thống dùng đến các hoạt động ngoài pháp chế và bất hợp pháp, đặc biệt là trong thời chiến. Tổng thống Abraham Lincoln đã đình chỉ luật bảo hộ giam giữ (habeas corpus) trong thời Nội chiến Hoa Kỳ;[60] Woodrow Wilson tống giam những phần tử tình nghi là cộng sản mà không đưa ra xét xử trong vụ bố ráp Palmer;[60]Franklin Roosevelt giam cầm trên một trăm ngàn người Mỹ gốc Nhật trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai.[60] Franklin D. Roosevelt sử dụng những nhà điều tra liên bang để nghiên cứu hồ sơ tài chính và thuế của những nhà chính trị đối lập.[61] Trong một nỗ lực nhằm ngăn ngừa khủng bố, George W. Bush cho phép nghe lén trên hệ thống điện thoại mà không cần lệnh từ tòa án. Hành động này[62] cũng như việc tra trấn và từ chối quyền pháp lý của những người bị giam giữ đã bị tòa án liên bang phán quyết là vi hiến.[63] Richard Nixon phạm vô số luật lệ khi yêu cầu một nhóm người đột nhập văn phòng của một nhà tâm lý học thuộc đảng đối lập cũng như văn phòng của Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ Hoa Kỳ rồi tìm cách che giấu sự nhúng tay của Tòa Bạch Ốc qua việc mua chuộc những nhân chứng trong một sự kiện mà sau đó trở thành vụ tai tiếng Watergate.[64] Hành động của Nixon theo 1 khía cạnh nào đó đã được Alexis de Tocqueville tiên tri trong một cuốn sách xuất bản vào năm 1835 có tựa đề là Democracy in America (Dân chủ tại Mỹ). Tocqueville cho rằng sự việc tổng thống có thể tái cử là một điều nghiêm trọng đáng quan tâm vì tổng thống ra tái tranh cử sẽ bị mê ngoặc, không chỉ làm mất tính công bằng của mình mà còn dùng cả một bộ máy quốc gia đồ sộ để giúp họ tái thắng cử.[65]
Phát động chiến tranh mà không có sự tuyên chiến từ Quốc hội
Một số người chỉ trích tố cáo rằng ngành hành pháp đã lấn quyền tuyên chiến, vốn đã được Hiến pháp Hoa Kỳ giao phó cho Quốc hội.[66][67][68] Mặc dù trong lịch sử các tổng thống đã khởi động tiến trình tiến tới chiến tranh nhưng họ đều xin phép và nhận được lệnh tuyên chiến chính thức từ Quốc hội Hoa Kỳ trong Chiến tranh 1812, Chiến tranh México–Mỹ, Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, Chiến tranh thế giới thứ nhất, và Chiến tranh thế giới thứ hai.[68][69] Tuy nhiên, các tổng thống đã không nhận được lệnh tuyên chiến chính thức đối với các hành động quân sự khác trong đó có sự việc Tổng thống Theodore Roosevelt đưa quân vào Panama năm 1903,[68] Chiến tranh Triều Tiên,[68] Chiến tranh Việt Nam,[68] các vụ xâm chiếm Grenada[70]Panama (1990).[71] Tuy nhiên dù không có sự tuyên chiến chính thức từ Quốc hội, tổng thống đã được Quốc hội chấp thuận tiến hành Chiến tranh Iraq lần thứ nhất vào năm 1991[72][73]Chiến tranh Iraq lần thứ 2 năm 2003[74][75] Năm 1993, một người chỉ trích viết rằng "Quyền tuyên chiến của Quốc hội đã trở thành điều khoản bị xem thường rõ ràng nhất trong Hiến pháp Hoa Kỳ."[76]
Ưu thế bầu cử của đương kim tổng thống
Các đương kim tổng thống tìm cách tái cử cho nhiệm kỳ 2 đều có lợi thế hơn đối thủ của mình,[77] và những người chỉ trích tố cáo rằng đều này là không công bằng. Từ năm 1936, trong 13 lần bầu cử tổng thống có đương kim tổng thống ứng cử thì đã có đến 10 lần đương kim tổng thống thắng cử và đối thủ chỉ thắng có 3 lần (xem bản dưới đây). Các đương kim tổng thống tái tranh cử luôn có được lợi thế mà đối thủ của họ không có, trong đó phải kể đến quyền lực dẫn dắt giới truyền thống đưa tin nhiều hơn và gây ảnh hưởng với những sự kiện cũng như sử dụng nhiều nguồn tài trợ của chính phủ.[78] Một thông tín viên ghi nhận rằng "gần như tất cả đương kim tổng thống đều gây quỹ nhiều hơn đối thủ của mình". Điều này đã mang lợi thế hơn cho những đương kim tổng thống.[79] Ủy ban hành động chính trị trao phần lớn số tiền của họ cho các đương kim tổng thống vì họ là những người dễ thắng cử hơn.[80] Một nhà dự báo chính trị cho rằng nên cộng thêm 5 phần trăm số điểm vào trong kết quả tái cử khả dĩ của một đương kim tổng thống cho dù các tình huống như sự phát triển kinh tế và lạm phát có thể làm ảnh hưởng đến kết quả bầu cử.[81][82]
Các cuộc bầu cử tổng thống từ năm 1936 có đương kim tổng thống
Năm Ứng viên Phiếu bầu Ứng viên Phiếu bầu Thắng cử Ghi chú
1936 Roosevelt 523 Landon 8 Đương kim [83]
1940 Roosevelt 449 Willkie 82 Đương kim [84]
1944 Roosevelt 432 Dewey 99 Đương kim [84]
1948 Truman 303 Dewey 189 Đương kim [84]
1956 Eisenhower 457 Stevenson 73 Đương kim [84]
1964 Johnson 486 Goldwater 52 Đương kim [84]
1972 Nixon 520 McGovern 17 Đương kim [84]
1976 Carter 297 Ford 240 Đối thủ [84]
1980 Reagan 489 Carter 49 Đối thủ [84]
1984 Reagan 525 Mondale 13 Đương kim [84]
1992 Clinton 370 GHW Bush 168 Đối thủ [84]
1996 Clinton 379 Dole 159 Đương kim [84]
2004 GW Bush 286 Kerry 252 Đương kim [84]
2012 Obama 332 Romney 206 Đương kim [85]
Ghi chú: các cuộc bầu cử không có sự tham dự của ứng cử viên đương kim tổng thống cũng như các cuộc bầu cử có các ứng cử viên thuộc đảng thứ 3 đều không được đưa vào danh sách này. Số phiếu được ghi trên danh sách là số phiếu đại cử tri đoàn.
Lạm dụng quyền ân xá
Các tổng thống đã bị chỉ trích vì lạm dụng quyền lực này. Thí dụ, Gerald Ford ân xá người đã từng chọn mình làm phó tổng thống trước đó, Richard Nixon; Quyết định của Tổng thống Ford đã bị chỉ trích như là 1 hành động lạm dụng quyền ân xá.[86] Các tổng thống cũng bị chỉ trích vì những quyết định ân xá khác. George H W Bush ân xá cho một viên chức bị tình nghi dấu diếm các tài liệu có liên quan đến vụ tai tiếng Iran-Contra.[87] Bill Clinton đề xuất 140 lệnh ân xá trong những ngày cuối cùng còn tại chức,[88] ân xá cho những người đào phạm[88] và những người đóng góp quỹ vận động tranh cử nổi tiếng.[88] George W Bush giảm án cho một nhân viên văn phòng bị truy tố vì che giấu sự dính líu của chính phủ trong vụ Valerie Plame Wilson.[89][90]
Điều hành chính sách ngoại giao
Vì không có bắt buộc là các ứng cử viên tổng thống phải tinh thông về ngoại giao, quân sự hay chính sách ngoại giao và vì các tổng thống tự điều hành các chính sách ngoại giao nên chất lượng tạo ra quyết định khá khác nhau từ tổng thống này đến tổng thống khác. Nhiều đánh giá được các nhà chuyên môn về chính sách ngoại giao lập thành danh sách gồm những thành công và thất bại trong nữa thế kỷ trước. Những thành công quan trọng trong nữa thế kỷ trước gồm có việc Liên Xô sụp đổ và tránh để xảy ra Đệ Tam Thế Chiến[91] cũng như việc xử lý cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962.[92] Nhưng vô số quyết định của tổng thống đã bị chỉ trích trong đó có vụ xâm nhập Vịnh con lợn tại Cuba,[93] những chọn lựa quân sự đặc biệt,[94] trao đổi vũ khí để lấy con tin với Iran,[95] và những quyết định khởi động chiến tranh.[96][97][98] Việc chiếm đóng theo sau Chiến tranh Iraq bị chỉ trích là "không có kế hoạch một cách thê thảm" và toàn bộ chiến lược với Iraq bị gọi là một "việc tự đánh bại mình và làm cho đồng minh xa lánh"[99] Một người chỉ trích nhận thấy rằng có một chiều hướng "quân sự hóa chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ."[100] Các tổng thống bị tố cáo là ủng hộ những nhà độc tài như quốc vương của Iran,[101] Pervez Musharraf của Pakistan,[102]Ferdinand Marcos của Philippines.[103] Toàn bộ chiến lược có liên quan đến Trung Đông bị chỉ trích[104] cũng như việc xử lý vấn đề Bắc Hàn[104]Iran.[105] Những người chỉ trích đã tố cáo rằng nền chính trị lưỡng đảng đã can thiệp vào chính sách ngoại giao.[106]

Địa vị

Tổng thống Hoa Kỳ là viên chức chính trị cao nhất tại Hoa Kỳ xét về mặt ảnh hưởng và công nhận. Vì địa vị của Hoa Kỳ trong vai trò siêu cường duy nhất còn lại trên thế giới nên Tổng thống Hoa Kỳ thường được xem là cá nhân quyền lực nhất trên thế giới[107] và được gọi theo thông lệ là Nhà lãnh đạo của Thế giới Tự do.

Chú thích

  1. Our Government • The Executive Branch, The White House
  2. http://www.whitehouse.gov/our_government/executive_branch/.  Unknown parameter |nhà xuất bản= ignored (help); Unknown parameter |tiêu đề= ignored (help); Unknown parameter |ngày truy cập= ignored (help); Missing or empty |title= (help). Grover Cleveland served two non-consecutive terms and is counted as both the 22nd and the 24th President. Because of this, all presidents after the 23rd have their official listing increased by one.
  3. Hamilton, Alexander. The Federalist #69 (reposting). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2007.
  4. Shurtleff v. United States, 189 U.S. 311 (1903); Myers v. United States, 272 U.S. 52 (1926).
  5. Humphrey's Executor v. United States, 295 U.S. 602 (1935) and Morrison v. Olson, 487 U.S. 654 (1988), respectively.
  6. Foreign-born Americans who were citizens at the time the Constitution was adopted were also eligible to become president, provided they met the age and residency requirements. However, this allowance has since become obsolete.
  7. See: Peabody, Bruce G.; Gant, Scott E. (1999). "The Twice and Future President: Constitutional Interstices and the Twenty-Second Amendment". Minnesota Law Review. Minneapolis, MN: Minnesota Law Review. 83 (565). ; alternatively, see: Albert, Richard (2005). "The Evolving Vice Presidency". Temple Law Review. Philadelphia, PA: Temple University of the Commonwealth System of Higher Education. 78 (811, at 856–9). 
  8. See S. Doc. 108-17 - The Constitution of the United States of America: Analysis, and Interpretation - 2002 Edition, at 611 & nn.772–73.
  9. U.S. Const. art. II, § 1, cl. 8.
  10. Guardian, "Bush colonoscopy leaves Cheney in charge", 20/7, 2007 18.24 BST
  11. Template:Usc
  12. Presidential and Vice Presidential Succession: Overview and Current Legislation Thomas H. Neale cập nhật 27/9/2004 bản lưu 25/10/2005
  13. Presidential and Vice Presidential Salaries http://www.lib.umich.edu/node/11736/ Presidential and Vice Presidential Salaries Check |url= value (help).  Unknown parameter |nhà xuất bản= ignored (help); Unknown parameter |tiêu đề= ignored (help); Unknown parameter |ngày truy cập= ignored (help); Missing or empty |title= (help)
  14. Relative Value in US Dollars. Measuring Worth. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2006.
  15. Dept. of Labor Inflation Calculator. Inflation Calculator. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2009.
  16. "How much does the U.S. president get paid?". Howstuffworks. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2007.
  17. Salaries of Federal Officials: A Fact Sheet. United States Senate website. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2009.
  18. http://www.gsa.gov/Portal/gsa/ep/buildingView.do?pageTypeId=17109&channelPage=/ep/channel/gsaOverview.jsp&channelId=-25241&bid=724.  Unknown parameter |ngày truy cập= ignored (help); Unknown parameter |tiêu đề= ignored (help); Missing or empty |title= (help)
  19. New Presidential Limousine enters Secret Service Fleet US Secret Service Press Release (ngày 14 tháng 1 năm 2009) Retrieved on 2009-01-20
  20. Air Force One. White House Military Office. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2007.
  21. Any U.S. Air Force aircraft carrying the president will use the call sign "Air Force One." Similarly, "Navy One", "Army One", and "Coast Guard One" are the call signs used if the president is aboard a craft belonging to these services. "Executive One" becomes the call sign of any civilian aircraft when the president boards.
  22. http://www.nps.gov/archive/eise/secret16.htm.  Unknown parameter |nhà xuất bản= ignored (help); Unknown parameter |ngày truy cập= ignored (help); Unknown parameter |tiêu đề= ignored (help); Missing or empty |title= (help)
  23. http://www.cbsnews.com/stories/2008/09/16/earlyshow/main4452073.shtml?source=RSSattr=Politics_4452073.  Unknown parameter |ngày tháng= ignored (help); Unknown parameter |nhà xuất bản= ignored (help); Unknown parameter |ngày truy cập= ignored (help); Unknown parameter |tiêu đề= ignored (help); Missing or empty |title= (help)
  24. http://www.eurweb.com/story/eur48530.cfm.  Unknown parameter |ngày tháng= ignored (help); Unknown parameter |nhà xuất bản= ignored (help); Unknown parameter |ngày truy cập= ignored (help); Unknown parameter |tiêu đề= ignored (help); Missing or empty |title= (help)
  25. (PDF) http://www.senate.gov/reference/resources/pdf/98-249.pdf.  Unknown parameter |năm= ignored (help); Unknown parameter |nhà xuất bản= ignored (help); Unknown parameter |ngày truy cập= ignored (help); Unknown parameter |tiêu đề= ignored (help); Missing or empty |title= (help)
  26. http://toledoblade.com/apps/pbcs.dll/article?AID=/20070107/NEWS09/70107004.  Unknown parameter |ngày tháng= ignored (help); Unknown parameter |nhà xuất bản= ignored (help); Unknown parameter |ngày truy cập= ignored (help); Unknown parameter |tiêu đề= ignored (help); Missing or empty |title= (help)
  27. Template:Usc
  28. Biography of Richard M. Nixon, The White House
  29. Template:Chú thích báo
  30. Template:Chú thích báo
  31. Template:Chú thích báo
  32. Template:Chú thích báo
  33. Template:Chú thích báo
  34. 34,0 34,1 Template:Chú thích báo
  35. Template:Chú thích báo[dead link]
  36. Template:Chú thích báo
  37. Template:Chú thích báo
  38. 38,0 38,1 Template:Chú thích báo
  39. Template:Chú thích báo
  40. Template:Chú thích báo
  41. Template:Chú thích báo
  42. Template:Chú thích báo
  43. Template:Chú thích báo
  44. Template:Chú thích báo
  45. Template:Chú thích báo
  46. Template:Chú thích báo
  47. 47,0 47,1 Template:Chú thích báo
  48. 48,0 48,1 48,2 Template:Chú thích báo
  49. Template:Chú thích báo
  50. Template:Chú thích báo
  51. 51,0 51,1 Template:Chú thích báo
  52. 52,0 52,1 Template:Chú thích báo
  53. Template:Chú thích báo
  54. Template:Chú thích báo
  55. Template:Chú thích báo
  56. Template:Chú thích báo
  57. Template:Chú thích báo
  58. Template:Chú thích báo
  59. 59,0 59,1 Template:Chú thích báo
  60. 60,0 60,1 60,2 Template:Chú thích báo
  61. Template:Chú thích báo
  62. Template:Chú thích báo
  63. Template:Chú thích báo
  64. Template:Chú thích báo
  65. Template:Chú thích báo
  66. Template:Chú thích báo
  67. Template:Chú thích báo
  68. 68,0 68,1 68,2 68,3 68,4 Template:Chú thích báo
  69. Template:Chú thích báo
  70. Template:Chú thích báo
  71. Template:Chú thích báo
  72. Template:Chú thích báo
  73. Template:Chú thích báo
  74. Template:Chú thích báo
  75. Template:Chú thích báo
  76. Template:Chú thích báo
  77. Template:Chú thích báo
  78. Template:Chú thích sách
  79. Template:Chú thích báo
  80. Template:Chú thích báo
  81. Template:Chú thích báo
  82. Template:Chú thích báo
  83. Template:Chú thích báo
  84. 84,00 84,01 84,02 84,03 84,04 84,05 84,06 84,07 84,08 84,09 84,10 84,11 Template:Chú thích báo
  85. Template:Chú thích báo
  86. Template:Chú thích báo
  87. Template:Chú thích báo
  88. 88,0 88,1 88,2 Template:Chú thích báo
  89. Template:Chú thích báo
  90. Template:Chú thích báo
  91. Template:Chú thích báo
  92. Template:Chú thích báo
  93. Template:Chú thích báo
  94. Template:Chú thích báo
  95. Template:Chú thích báo
  96. Template:Chú thích báo
  97. Template:Chú thích báo
  98. Template:Chú thích báo
  99. Template:Chú thích báo
  100. Template:Chú thích báo
  101. Template:Chú thích báo
  102. Template:Chú thích báo
  103. Template:Chú thích báo
  104. 104,0 104,1 Template:Chú thích báo
  105. Template:Chú thích báo
  106. Template:Chú thích báo
  107. Template:Chú thích báo

Xem thêm

Tham khảo

  • Leonard Leo, James Taranto, and William J. Bennett. Presidential Leadership: Rating the Best and the Worst in the White House. Simon and Schuster, June, 2004, hardcover, 304 pages, ISBN 0-7432-5433-3
  • Waldman, Michael, and George Stephanopoulos, My Fellow Americans: The Most Important Speeches of America's Presidents, from George Washington to George W. Bush. Sourcebooks Trade. September 2003. ISBN 1-4022-0027-7
  • Couch, Ernie, Presidential Trivia. Rutledge Hill Press. ngày 1 tháng 3 năm 1996. ISBN 1-55853-412-1
  • Lang, J. Stephen, The Complete Book of Presidential Trivia. Pelican Publishing. September 2001. ISBN 1-56554-877-9
  • Bầu cử tổng thống Mỹ diễn ra như thế nào?

Liên kết ngoài

Template:Thể loại Commons

Template:Tổng thống Hoa Kỳ Template:Các chủ đề

Thể loại:Chính phủ Hoa Kỳ Thể loại:Danh sách nhân vật Thể loại:Bài Hoa Kỳ chọn lọc